iếng.
 
Phổ Hoằng Thượng Nhân khẽ nói: "Cho đến khi Phổ Trí sư đệ hồi phục thần trí, đại tội đã thành, đừng trên núi thấy biển máu dưới chân, toàn thân sư đệ như bị ngũ lôi giáng xuống, hoàn toàn mất đi tri giác. Cả đời công đức tu hành đã đổ theo cả giòng nuớc, lại còn hại chết biết bao người. Tội nghiệt tay trời đã xé nát tâm phế của Phổ Trí sư đệ. Đúng trong cơn hỗn ác ấy, sư đệ trở về Thiên Âm Tự, trong tình trạng thần trí bất minh, trông thấy ta, sư đệ đã kể hết tất cả tội nghiệt của mình. Đau khổ muôn phần, sư đệ cũng đã cầu khẩn ta nể tình huynh đệ bao năm mà cứu vãn lấy một phần vạn tội nghiệt của đệ ấy, chỉ cần con gặp khó khăn thì nhất định phải ra tay trợ giúp".
 
Quỷ Lệ cố gắng kiềm nén dòng nước mắt, nhưng cuối cùng lệ thảm cũng tuôn trào. Mấy chục năm chưa hề biết khóc, trang nam nhi kiên cường như sắt thép ấy lúc này như biến thành lệ nhân.
 
Phổ Hoằng Thượng Nhân vẻ mặt rầu rầu: "Phổ Trí sư đệ nói lại việc cuối cùng này thì độc tính phát tác, cuối cùng đã viên tịch trong tay ta. Trước khi ra đi sư đệ nói di cốt của mình không được hoả tang chôn cất, mà hãy dùng Ngọc Băng Bàn chèn lại, giữ lấy chút xương tàn. Ngày sau nều có một thiếu niên tên Truơng Tiểu Phàm biết được chân tướng sự việc, thì hãy mời cậu ấy đến nơi đây, mặc cho cậu ấy xử lý cái thân xác tội nghiệt vô tận này. Có đánh, chửi hay rắc rải xương cốt cũng được, chúng tăng trong Thiên Âm Tự tuyệt đối không can thiệp, hy vọng có thể cứu vãn được một phần vạn tội nghiệt của sư đệ".
 
Quỷ Lệ ngẩng mạnh đầu lên, Phổ Hoằng Thượng Nhân nhìn thẳng vào hai mắt hắn, sắc mặt nghiêm trang, chầm chậm nói: " Hài tử, rốt cuộc con đã nghe hết rồi! Di nguyện ngày ấy của sư đệ, ta cũng đã hoàn thành xong. Bây giờ xử lý thế nào là tuỳ ở con. Trong căn phòng nhỏ ở hậu viện, con muốn như thế nào thì cứ việc qua đấy".
 
Quỷ Lệ nghiến chặt hai hàm răng, ánh mắt chằm chằm nhìn vào Phổ Hoằng Thượng Nhân. Không hiểu vì sao, Phổ Hoằng Thượng Nhân không dám nhìn vào mắt hắn, lảng sang nơi khác.
 
Quỷ Lệ mỗi lúc một thở mạnh hơn, ngực đập thình thịch, sắc mặt thay đổi ghê ghớm. Bất chợt như đã hạ quyết tâm, hắn quay ngoắt người đi ra, tiếng bước chân xa dần về phía căn phòng ở cuối hậu viện.
 
Pháp Tướng sắc mặt đại biến: "Sư phụ!".
 
Phổ Hoằng Thượng Nhân khẽ lắc đầu, mặt hiển hiện một nỗi đau nặng trĩu, khẽ nói: "Hãy để cậu ta đi! Đó cũng là di nguyện cuối cùng của sư thúc con. Thế sự biết bao khổ ải, hỏi có bao nhiêu người có thể hiểu thấu được đây? A di đà phật...".
 
Thượng Nhân chắp tay, lẳng lặng niệm phật hiệu. Trong nháy mắt căn phòng bỗng trở nên im phăng phắc
 
Lặng yên xé nát tâm can!






Tiêu Đỉnh

Tru Tiên

Dịch giả: Alex và các bạn bên Nhạn Môn Quan

Chương 182

Hoá Giải
Chuông chùa ngân nga, tiếng trống chiều tà trầm trầm. Tu Di Sơn chìm trong biển mây mờ ảo, từ bình minh cho đến lúc hoàng hôn, nơi chân trời gió mây không ngừng thay đổi, mây trắng cứ lững lờ trôi, thời gian quyết chẳng vì ai mà lưu lại.
 
Thiên Âm Tự hùng vĩ tráng lệ, sừng sững toạ lạc trên đỉnh núi Tu Di Sơn, tưởng như đang dùng ánh mắt từ bi nhìn xuống thế gian, vô số phàm nhân từ bốn phương tám hướng tụ tập lại từ sáng sớm, hướng về phật đường, tượng phật mà danh lễ chiêm bái, kể lể chuyện vui buồn trong lòng, cầu xin thần minh phù hộ. Mỗi ngày có hàng vạn người tới, tụ hợp, hàng vạn người lại ra đi, ly biệt, ngày này sang ngày khác, không hề thay đổi, năm này sang năm khác, hết hợp rồi lại tan. Chỉ có tượng phật vàng ròng trong chánh điện, trước chánh điện ánh minh đăng không bao giờ tắt, hương khói nghi ngút ấy, chứng kiến thế sự tang thương.
 
Quỷ Lệ, hay có thể gọi là Trương Tiểu Phàm, lại đi vào căn tiểu ốc chứa di thể của Phổ Trí Thần Tăng, đã được một ngày một đêm, trong suốt thời gian này, trong tiểu ốc không có chút động tĩnh nào. Phổ Hoằng thượng nhân cũng đến tiểu đình ở bên ngoài tiểu ốc một lần, ngồi đợi một lúc, sau đó thở dài rồi bỏ đi.
 
Chỉ có Pháp Tướng đã theo Quỷ Lệ vào trong phòng, sau đó đã đợi ở đình viện bên ngoài tiểu ốc, kiên nhẫn đến mức không ai ngờ.
 
Không ai biết tại sao Pháp Tướng lại đứng nơi đó, kể cả Phổ Hoằng thượng nhân ở bên trong sự việc, mà thực ra tất cả tăng nhân ở Thiên Âm Tự cũng không ai hỏi y một câu nào. Pháp Tướng vẫn kiên trì một mình đứng đó, tựa hồ như đang chờ đợi một ai.
 
Mặt trời về chiều đỏ rực như máu, ánh hồng chiếu sáng chân trời, ánh vàng óng ánh viền chung quanh đám mây chiều ở xa xa, mười phần mỹ lệ. Cảnh đẹp của trời đất vốn luôn ở cạnh con người, chỉ tại con người nhìn mà không thấy, thấy mà không có tâm để cảm nhận.
 
Pháp Tướng nhìn ánh tà dương ở xa, dường như xuất thần, y đã đứng đó một ngày một đêm, trên gương mặt thanh tú tựa hồ không để lộ ý nghĩ gì, trái với mục quang trong sáng, lấp lánh ánh sáng trí tuệ thâm thuý.
 
"Ngươi đang nhìn gì vậy?". Đột nhiên, có tiếng nói cất lên ở bên cạnh, Pháp Tướng giật mình, như chợt tỉnh cơn mê, nhìn thấy Phổ Hoằng thượng nhân không biết từ lúc nào đã đi đến đình viện, đang đứng đó mỉm cười nhìn y.
 
Pháp Tướng chắp tay trả lời: "Hồi bẩm sư phụ, đệ tử đang nhìn ánh tà dương ở phía tây, bỗng nhiên sở ngộ, xuất thần suy nghĩ, không biết sư phụ đã đến, thật thất lễ".
 
Phổ Hoằng thượng nhân cười nói: "Không cần quan tâm đến lễ nghi quá như vậy, con nhìn ánh tà dương, đã hiểu được điều gì?".
 
Pháp Tướng trầm ngâm một hồi, nói: "Đệ tử đứng đây một ngày một đêm, ban đêm ngắm tinh tú, ban ngày nhìn thấy trời xanh, thấy phồn hoa cũng giống như mặt trời, ban ngày mọc ở phương đông, đến cuối ngày chỉ còn lưu lại chút dư quang ở phương tây. Bất giác trong lòng cảm thấy bi thương, nhân sinh như vậy, ánh sáng như vậy, thiên địa vạn vật tất cả đều như vậy, đệ tử nhất thời không biết tại sao sinh ra trên đời để làm gì, con người thật chỉ nhỏ bé chẳng có giá trị, vậy còn sinh ra để làm gì?".
 
Phổ Hoằng thượng nhân gật đầu nói: "Đồ nhi, ngươi quả thật có trí tuệ hơn người, thiên địa vạn vật, cái gì cũng có số mệnh riêng, mặc dù thiên biến vạn hoá, cuối cùng cũng không thể đi ngược lại ý trời. Ngươi nhờ nhìn mặt trời mọc rồi lại lặn, hiểu được đạo lý này, vậy là quá tốt rồi".
 
Pháp Tướng cung kính hướng Phổ Hoằng thượng nhân hành lễ, nói: "Đa tạ sư phụ khen thưởng, đệ tử thật không dám nhận. Chỉ có điều đệ tử tuy gần như đã giác ngộ, nhưng trong lòng vẫn còn có chút nghi hoặc. Đệ tử không giải thích được, nếu thiên mệnh đã định sẵn, vạn vật cuối cùng cũng diệt vong, vậy vô số chúng sinh, chịu đựng bao ân oán tình ái trong cuộc sống, là vì mục đích gì? Phật dạy phải phổ độ chúng sinh, chúng sinh đều có khả năng được độ thoát, nhưng nếu chúng sinh không muốn được phật độ, vậy thì phải làm cách nào? Phật dạy ở thế giới tây thiên cực lạc, vô oán vô hận vô tình vô dục, nếu như vậy không thể hấp dẫn được chúng sinh, thì phải làm sao? Đệ tử ngu muội, thỉnh sư phụ chỉ điểm".
 
Nói xong Pháp Tướng cúi đầu, chắp tay niệm phật.
 
Phổ Hoằng thượng nhân chăm chú nhìn Pháp Tướng một lúc lâu, chậm rãi gật đầu, nét mặt lộ vẻ tươi cười, không trả lời ngay, thay vào đó nhìn về ráng chiều ở phía tây nơi Pháp Tướng đã nhìn trước đó, một hồi sau mới cất tiếng nói: "Vừa rồi ngươi nhìn về hướng tây, có thấy ráng chiều hay không?".
 
Pháp Tướng trả lời: "Dạ, đệ tử thấy thời gian trôi nhanh, mặt trời lặn về hướng tây, ánh sáng mờ dần, trong lòng cảm thấy bi thương khôn tả, nên mới thỉnh vẫn sư phụ".
 
Phổ Hoằng thượng nhân cười nói: "Trong chốc lát nữa đây, mặt trời sẽ xuống núi, vào lúc đó ngươi sẽ không còn thấy ráng chiều nữa".
 
Pháp Tướng tràn đầy nghi hoặc, không hiểu Phổ Hoằng thượng nhân muốn nói điều gì, chỉ biết trả lời: "Đúng thế, thưa sư phụ".
 
Phổ Hoằng thượng nhân ung dung nhìn về chân trời phía tây, chỉ thấy ánh mặt trời từ từ lặn xuống, bầu trời tối dần, chỉ còn lại ánh sáng mờ nhạt, thản nhiên nói: "Tịch dương vốn vô tình, không thể lưu giữ lại. Nhưng đến sáng sớm mai, ngươi lại có thể nhìn thấy cảnh bình minh phải không?".
 
Pháp Tướng giật mình, tâm tư rúng động, nhất thời không biết nói gì, sắc mặt lộ rõ vẻ suy nghĩ.
 
Phổ Hoằng thượng nhân quay đầu lại nhìn Pháp Tướng, mặt phảng phất nét cười, không nói thêm gì nữa.
 
Trời mỗi lúc một tối, mặt trời cuối cùng đã hoàn toàn khuất sau núi, chẳng bao lâu sau, chỉ nhìn thấy một vầng trăng sáng từ phía đông dần dần lên cao, ánh trăng mềm mại như nước, lặng lẽ soi sáng thế gian.
 
Đêm về khuya, Thiên Âm Tự dưới ánh trăng sáng đầy vẻ thanh u yên tĩnh, tuy không giống lúc ban ngày tràn đầy phồn hoa náo nhiệt, nhưng so ra lại có vẻ mỹ lệ thanh đạm hơn hẳn.
 
Tu Di Sơn, Thiên Âm Tự, tiểu đình viện, sư đồ họ hai người không nói năng gì, an tĩnh đứng tại đình viện, y phục nhẹ nhàng lay động trong gió núi.
 
Không biết bao lâu sau, chỉ thấy vầng trăng đã sắp lên đến giữa trời, giữa tiểu viện an tĩnh bỗng nổi lên một tràng tiếu ngạo.
 
Pháp Tướng mặt lộ vẻ vui mừng, bước vài bước tới giữa tiểu viện, ngẩng đầu vọng nguyệt, chỉ thấy ánh trăng chiếu sáng phủ lên tăng bào nguyệt bạch tựa như sương như tuyết.
 
Pháp Tướng cười lớn, quay người lại, mỉm cười rồi quỳ xuống dưới chân Phổ Hoằng thượng nhân, chắp tay hành lễ: "Đa tạ sư phụ chỉ điểm, đệ tử đã hiểu rồi".
 
Phổ Hoằng thượng nhân ánh mắt tỏ rõ nét vui mừng, nhìn xuống tên đệ tử đang quỳ dưới chân, mặc dù ông ta tu hành đã đến cảnh giới không còn quan tâm đến chuyện được mất, sắc mặt vẫn lộ vẻ hoan hỉ chân tâm. Ông nhẹ nhàng vuốt đầu Pháp Tướng, cảm khái thốt lên:
 
"Hảo!".
 
"Hảo!".
 
"Hảo!".
 
"Ngươi thiên tư thông minh, thế gian hiếm có, nhưng điều quan trọng nhất là ngươi có tuệ tâm đối với phật học phật lý. Trước đây trong bốn sư huynh đệ chúng ta, kỳ thật Phổ Trí sư thúc ngươi là người thông tuệ nhất, y tuy thông minh, nhưng cuối cùng cũng đi lầm đường, lơ là phật học, vọng cầu trường sanh bất tử, tựu chung cũng không tránh nổi số mệnh. Hôm nay ngươi đã hiểu được điều này, là phúc phận của ngươi mà cũng là phúc phận của Thiên Âm Tự chúng ta vậy!".
 
Pháp Tướng sợ hãi, ngẩng đầu nhìn Phổ Hoằng thượng nhân nói: "Sư phụ, người nói gì mà đệ tử không hiểu được?".
 
Phổ Hoằng thượng nhân lắc đầu, dùn